Thứ Bảy, ngày 20/04/2019 Chào mừng bạn đến với website www.khuyenconghaiphong.com.vn
Loading
Liên kết website
Video Clip
Hoạt động nổi bật
:: Triển lãm SP CNNTTB tại Nghệ An
:: Hỗ trợ ứng dụng máy may lập trình cho HKD Nguyễn Xuân Trường
:: Tập huấn KSDN cho đoàn viên huyện An Lão
:: Bộ Công Thương tặng bằng khen
:: Gian hàng cơ sở CNNT tại HCTL Công thương vùng ĐBSH Hải Phòng 2017
:: Khai mạc HCTL Công Thương vùng ĐBSH Hải Phòng 2017
:: Hỗ trợ cơ sở CNNT tham gia HCTL
:: Khai mạc HCTL CN-TTCN và Làng nghề Hải Phòng 2017
:: Lãnh đạo UBND thành phố trao giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa cho cơ sở CNNT
:: Nghiệm thu ứng dụng MMTB tiên tiến vào SX điêu khắc đá
:: Khai giảng đào tạo nghề may tại CT Phúc Linh
:: Ứng dụng thiết bị tiên tiến trong sản xuất đúc
:: Đào tạo nghề tại CT TNHH Quý Phương
:: Hỗ trợ cơ sở CNNT tham gia HCTL
:: Ứng dụng máy may vi tính
:: Trao giấy chứng nhận SPCNNTTB khu vực phía Bắc 2016
:: Triển lãm sản phẩm CNNTTB thành phố Hải Phòng
:: Triển lãm hoạt động Khuyến công giai đoạn 2006-2016
:: SX nước mắm truyền thống Cát Hải
:: Ứng dụng máy đóng gói khăn giấy tự động- Cty Giấy Việt Úc
:: Sản xuất tại Công ty May Thái Anh
:: Trao giấy chứng nhận SPCNNTTB TP Hải Phòng 2015
:: Bình chọn SPCNNT tiêu biểu 2015
:: Sản phẩm TCMN tham gia HCTL
:: Triển lãm 10 năm hoạt động khuyến công
:: HCTL Công nghiệp- Tiểu thủ CN Hải Phòng 2015
:: Gian hàng CT CP Thương mại thực phẩm Trường Xanh
:: Ứng dụng máy chiết rót, đóng chai trong SX nước mắm
:: Tập huấn chính sách, nghiệp vụ khuyến công
:: SX tại CT TNHH Thiên Long Thuần Yến
:: Hỗ trợ ứng dụng máy dệt chiếu tự động tại huyện Tiên Lãng
:: Chuyên gia Nhật Bản tư vấn thực hiện 5S cho cơ sở CNNT
:: Khai giảng khóa đào tạo nghề may công nghiệp
Khoa học - CN & hội nhập
Tận dụng các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong xuất nhập khẩu.
[ Tin ngày : 25/3/2019]
Theo thống kê của Trung tâm WTO thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) 2018, hiện nay Việt Nam đang tham gia 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương, trong đó có một số FTA thế hệ mới, như: Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương thế hệ mới (CTTPP), Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA), Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA), Việt Nam - Liên minh kinh tế Á - Âu (VN EAEU FTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).… Các FTA thế hệ mới trên đây có những đặc điểm chung như: (i) Mức độ tự do hóa sâu; (ii) Phạm vi cam kết rộng; (iii) Có nhiều cam kết về thể chế; (iv) Đối tác FTA đặc biệt lớn.

FTA tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp

Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), năm 2017, tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam đạt hơn 31 tỷ USD nhưng chi phí cho hoạt động logistics của các DN chiếm tới 9,1%, tương đương khoảng 2,79 tỷ USD. Ðiều đó cho thấy, chi phí dành cho các hoạt động logistics của Việt Nam cao hơn nhiều so với các nước lân cận và trong khu vực. Cụ thể, chi phí logistics của Việt Nam cao hơn 6% so với Thái-lan, 7% so với Trung Quốc, 12% so với Ma-lai-xi-a và cao gấp ba lần so với Xin-ga-po. Mặc dù có nguồn nhân công chi phí hợp lý nhưng chi phí logistics cao khiến ngành dệt may Việt Nam giảm tính cạnh tranh so với các đối thủ.

Xuất khẩu hàng hóa qua cảng Green port

Ngoài các khoản phí và lệ phí nêu trên, các DN dệt may đang phải đối mặt sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của các đối thủ trong khu vực và trên thế giới khi giá nhân công ngày càng tăng. Chính sách điều chỉnh tiền lương tối thiểu tăng liên tục trong những năm qua, cũng như một số chi phí như 3% kinh phí công đoàn, lệ phí về cầu cảng, vận chuyển,... đã và đang tạo gánh nặng đối với DN.
Khi nhu cầu của các DN dệt may và DN cung ứng dịch vụ logistics chưa kết nối được với nhau, các DN có thể xem xét tới khả năng mua chung nguyên phụ liệu nhằm giảm chi phí vận chuyển; sự thay đổi tập quán kinh doanh, chuyển nhập khẩu nguyên phụ liệu từ hình thức CIF sang hình thức FOB chỉ mới tận dụng khá tốt các ưu đãi với thị trường Hàn Quốc, còn lại với nhiều đối tác khác, tỷ lệ tận dụng ưu đãi còn rất thấp. Nguyên nhân là do các FTA khác nhau có yêu cầu về quy tắc xuất xứ khác nhau, nhiều FTA yêu cầu xuất xứ từ sợi trở đi, trong khi Việt Nam chủ yếu nhập khẩu nguyên phụ liệu từ Trung Quốc.
Việc tận dụng ưu đãi chưa hiệu quả, một phần do những bất cập trong khâu thực thi chính sách của cơ quan Nhà nước các quy tắc xuất xứ, doanh nghiệp thiếu thông tin về các cam kết và cách thực hiện. Ngoài ra, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn yếu so với đối tác trong các FTA. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc doanh nghiệp Việt Nam chưa tận dụng được ưu đãi từ các FTA, ngay tại thị trường trong khối ASEAN, nguyên nhân chính là do tư duy gắn kết chuỗi giá trị của doanh nghiệp Việt chưa cao.
Trên thực tế, các doanh nghiệp nước ngoài khi nhập hàng từ Việt Nam, dù có áp dụng thuế suất ưu đãi hay không ưu đãi thì đều yêu cầu doanh nghiệp Việt cung cấp giấy chứng nhận nguồn gốc xuất xứ. Lý do là để khi tái xuất hàng hóa sang thị trường thứ 3, họ có thể cộng gộp nguồn gốc xuất xứ từ Việt Nam để được hưởng thuế suất ưu đãi. Ngược lại, mặc dù nhập khẩu rất nhiều nguyên, phụ liệu phục vụ sản xuất xuất khẩu nhưng doanh nghiệp Việt Nam lại chưa ý thức, quan tâm tới vấn đề yêu cầu giấy chứng nhận nguồn gốc xuất xứ. Vì vậy, với các FTA yêu cầu chặt chẽ về nguồn gốc xuất xứ, doanh nghiệp Việt rất khó chứng minh được nguồn gốc xuất xứ nguyên liệu để đủ điều kiện hưởng ưu đãi.
Các chuyên gia nhận định, tỷ lệ tận dụng ưu đãi từ các FTA của doanh nghiệp Việt Nam đã được cải thiện đáng kể, từ 10% trong những năm đầu lên 38% như hiện nay, nhưng vẫn chưa đủ lực để cân bằng cán cân thương mại với nhiều đối tác. Nguyên nhân xuất phát từ việc các FTA thế hệ mới, bên cạnh cắt giảm thuế quan còn có các điều khoản, quy định chặt chẽ liên quan tới tiêu chuẩn kỹ thuật, nguồn gốc xuất xứ, sở hữu trí tuệ…khiến các doanh nghiệp Việt Nam chưa kịp thích nghi, đáp ứng điều kiện để được hưởng ưu đãi. Hơn nữa, việc tận dụng ưu đãi thuế quan xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam vẫn đang tập trung vào các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI). Hiện nay, doanh nghiệp FDI chỉ chiếm trên 20% tổng số doanh nghiệp trong ngành chế biến gỗ nhưng chiếm tới 45% sản lượng xuất khẩu và hầu hết đều tận dụng được tối đa các ưu đãi từ các FTA mà Việt Nam tham gia.
Doanh nghiệp FDI ngành gỗ xác định rất rõ mục tiêu đầu tư sản xuất tại Việt Nam là để tận dụng các ưu đãi mà hàng hóa Việt Nam có được từ các FTA. Có lợi thế về quy mô, nguồn lực cũng như hiểu rõ các tiêu chuẩn, đặc trưng riêng về đồ gỗ ở thị trường mà họ xuất khẩu. Ngược lại, các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ hơn, chưa nắm bắt được thị hiếu của thị trường cũng như đáp ứng được các tiêu chuẩn về mặt kỹ thuật, xuất xứ hàng hóa để được hưởng ưu đãi.
Trong khi các doanh nghiệp nước ngoài như Hàn Quốc, Nhật Bản rất tích cực đi khai phá thị trường mới và tận dụng triệt để mọi cơ hội được ưu đãi để xuất khẩu thì phần lớn doanh nghiệp Việt Nam lại đang thụ động và chờ người tới đặt hàng. Thêm vào đó, vẫn còn nhiều doanh nghiệp chưa chủ động tìm hiểu thông tin về các FTA cũng như các lợi ích từ việc cắt giảm thuế quan, dẫn đến việc bỏ qua các ưu đãi chính đáng được hưởng. Đó là những nguyên nhân khiến doanh nghiệp Việt “lép vế” trong việc xuất khẩu và tận dụng ưu đãi từ các FTA để xuất khẩu.

FTA tạo đà cho doanh nghiệp xuất khẩu


đồ chơi xuất khẩu tại Công ty TNHH quoc te Vinh Chan


Để hiện thực hóa các kỳ vọng khi tham gia các FTA, cần có giải pháp đồng bộ để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Các điều khoản trong các FTA có lợi cho Việt Nam bao nhiêu, nhưng doanh nghiệp không biết cách tận dụng thì cũng không thể mở rộng thị trường và gia tăng giá trị xuất khẩu. Do đó, các doanh nghiệp phải nhanh chóng thay đổi tư duy, nhận diện đúng vai trò của mình trong việc thực thi các FTA. Cụ thể, cần chủ động tiếp cận, tìm hiểu thông tin, nội dung mà hai bên đã cam kết để vận dụng quy tắc xuất xứ một cách có hệ thống và hiệu quả. Song song đó, doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng, đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng, kỹ thuật đã cam kết. 
Chấp nhận cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường thế giới và ngay cả thị trường trong nước. Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp Việt nên lấy sức ép cạnh tranh làm động lực để đổi mới và phát triển; chủ động trong việc tìm hiểu, nắm bắt, cập nhật thông tin về cam kết, thị trường, đối tác, quy tắc xuất xứ; cần liên kết chặt chẽ theo ngành, chia sẻ đơn hàng cùng nhau; hợp tác, liên kết với các doanh nghiệp, tập đoàn đa quốc gia để chuyển giao công nghệ cũng như tận dụng cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.
Kinh nghiệm từ một số quốc gia trong khu vực cho thấy, để có thể tận dụng được ưu đãi từ các FTA vào đẩy mạnh xuất khẩu, bên cạnh sự chủ động, nỗ lực của các doanh nghiệp, cần có sự hỗ trợ đắc lực từ các cơ quan nhà nước. Như tại Hàn Quốc, Chính phủ đã tích cực hỗ trợ thủ tục cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) cho doanh nghiệp, hải quan Hàn Quốc cũng thành lập bộ phận chuyên hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc lấy các giấy chứng nhận để được hưởng ưu đãi. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường không có bộ phận chuyên trách để nghiên cứu các thủ tục, tiêu chuẩn mà các FTA yêu cầu. Do đó, Hàn Quốc đã xây dựng phần mềm hỗ trợ doanh nghiệp đánh giá khả năng đáp ứng các quy tắc nguồn gốc xuất xứ và thực hiện cấp C/O điện tử nhằm giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí, thời gian, từ đó tận dụng tốt nhất cơ hội xuất khẩu.
Nhà nước cần đặc biệt tạo cơ chế, chính sách tập trung hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu các mặt hàng có thế mạnh thông qua việc định hướng nguồn cung nguyên liệu, hướng dẫn thực hiện các quy tắc nguồn gốc xuất xứ đáp ứng yêu cầu FTA, đơn giản hóa các thủ tục cấp giấy chứng nhận, kiểm tra chuyên ngành,… Ngoài ra, các cơ quan xúc tiến thương mại, hiệp hội ngành hàng tại Việt Nam cần tích cực hơn nữa trong việc cập nhật, hướng dẫn doanh nghiệp nắm bắt các thông tin hội nhập, tạo điều kiện doanh nghiệp Việt tận dụng các FTA trong việc thúc đẩy trao đổi hàng hóa và nâng cao giá trị xuất khẩu.


Phòng Quản lý Đầu tư và Hợp tác quốc tế
* Tài liệu đính kèm:
Các tin khác đã đăng cùng loại
Tin tức nổi bật
Tư vấn công nghiệp
Giới thiệu Doanh nghiệp
THÔNG TIN TRUY CẬP
Hiện tại : 93 lượt
Tổng số : 143907 lượt
 
Trang thông tin điện tử tổng hợp khuyến công Hải Phòng
Bản quyền thuộc về Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp - Sở Công Thương Hải Phòng
Địa chỉ : Số 9, Lạch Tray, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
Email : khuyenconghaiphong@vnn.vn - Điện thoại: 0225.3739.472 - Fax: 0225.3630.639.
Chịu trách nhiệm nội dung : Ông Nguyễn Minh Châu - Giám đốc Trung tâm
Giấy phép số 02/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông Hải Phòng cấp ngày 26/11/2014
Thiết kế và phát triển bởi Huu Phong Software Solution